Luận sát phong thuỷ

Phong thuỷ là một loại khí trường của giới tự nhiên, năng lượng có ích cho cơ thể người được gọi là Khí, năng lượng có hại cho cơ thể người gọi là Sát.

Con người trong những hoàn cảnh khác nhau nhận được cảm ứng cát hung của năng lượng Quang (ánh sáng), Khí (không khí), Thuỷ (nước) khác nhau. Sát trong phong thuỷ có thể chia thành: Hình sát, Khí sát, Thanh sát, Quang sát, Phong sát, nhưng Hình sát chiếm phần lớn.

2

I. Hình sát

Hình sát là sát khí hữu hình của vật thể, nhìn thấy được, sờ thấy được. Do vị trí không giống nhau vì thế cát hung cũng khác nhau. Hình sát là một nội dung trong phong thuỷ của phái Hình Thế. Ví dụ lộ xung, cấm kỵ nhất là xung môn (nghĩa là đường cấm kỵ nhất là xông thẳng vào cửa), ở phương vị khác cũng cấm, xung khôn vị tổn mẫu, xung khảm vị thương trung nam. Lộ xông chia thành Cát xông và Hung xông, Dương Trạch Khí Khẩu Môn Quái Vượng không sợ xông, công xưởng nhà máy, quán rượu không sợ xông. Nếu bố cục tốt, phản xông là vượng. Nhưng trong những trường hợp bình thường bị xông là không tốt, đường càng rộng càng dài thì hung khí càng lớn.

Lại ví dụ thuỷ xạ, là sự xông bắn, hướng chảy của dòng nước, nước lớn, nước chảy gấp, nước chảy thẳng đều là hung. Nếu nước chảy từ nơi xa đến, bỗng nhiên dừng lại, chảy vào bể nước hoặc đầm hồ, như vậy là thế nước có thu, nghĩa là cát. Trong phong thuỷ cũng có lúc gọi con đường là “nước”, tuy có con đường thẳng xông đến, bỗng nhiên ngoặt vào một bãi đỗ xe, cũng được gọi là “thế nước có thu”, nghĩa là cát. Hay như tường có lỗ hổng, không thể tàng phong tụ khí (giữ gió, tích tụ khí), đây là tượng trưng của sự suy bại, sống lâu ở đó sẽ làm cho gia vận bị suy thoái. Vị trí tường khuyết ở Quái Tượng nào thì sự vật mà Quái Tượng đó đại diện sẽ bị ảnh hưởng.

Ví dụ, càn vị khuyết sẽ ảnh hưởng đến quyền lực và địa vị của chủ nhà, hoặc bị thương ở đầu hay đầu não có bệnh. Tóm lại là sự vật mà Càn Quái đại diện đều sẽ bị ảnh hưởng. Cuối cùng là những sự vật nào? Điều này cần phải phân tích tổng hợp.

Lại ví dụ thụ chàng (đụng phải cây), tức là trước cửa có cây lớn ở giữa dễ bị mắc bệnh liên quan đến khoang miệng. Bởi vì môn (cửa) như khẩu (miệng). Môn ở quái vị nào thì sự vật mà quái vị đó đại diện sẽ bị ảnh hưởng.

Nếu có cột điện trước cửa cũng như vậy. Nếu có một kiến trúc cao lớn áp sát dương trạch, tức là bị “cao áp”, ép đến nỗi người không thể thở ra hơi, sống lâu như vậy sẽ gây trở ngại về tâm lý. Hay có máy biến áp, đền miếu, đầm hồ, bãi tha ma, ống khói, nhà vệ sinh, đống rác thải, đường sắt, cầu…, ở những vị trí không giống nhau đều có thể hình thành nên “Sát”, sẽ gây ra nguy hại đối với người ở ngôi nhà đó.

Ngoài ra, môn phái không giống nhau đối với “sát” cũng có sự chú trọng khác nhau. Ví dụ nói về “bát sát”, bát sát chính là tám phòng ốc ở những toạ hướng khác nhau, mỗi cái đều có một phương sát khí, nếu phạm phải phương này cần phải đề phòng sự cố ngoài ý muốn. Những sát khí này coi Hình sát của Trạch ngoại là chính. Ở đây đề cập đến cách làm thế nào để sử dụng la bàn, môn phái không giống nhau, cách dùng cũng khác nhau.

II. Khí sát

Hình sát là vật thể thực tại nhìn thấy được, sờ thấy được, cũng có một loại sát nhìn không thấy, sờ không được nhưng ở bất kỳ thời khắc nào đều sinh ra ảnh hưởng đối với con người, đó chính là Khí sát. Loại khí này không phải là không khí, mà là một loại trường năng lượng, giống như từ trường mà khoa học hiện đại vẫn thường nói.

Trong phạm trù phong thuỷ học có rất nhiều loại sát khí. Khí sát là sáng chế độc quyền của phái lý khí, trong đó tuế tinh của mỗi năm là hung nhất, tỉ lệ ứng nghiệm cao nhất, khả năng sát thương lớn nhất trong các loại sao. Đặc biệt là hung tinh trong tuế tinh bay đến cửa lớn, giường ngủ, phòng bếp, trong nhà, thậm chí là thần vị, như vậy những người trong nhà dễ bị những lời thị phi của miệng lưỡi người đời, sức khoẻ cũng bị ảnh hưởng, xem xét tính chất của hung tinh này mà quyết định ứng số ở phương diện nào.

1. Ngũ Hoàng: sát trung chi sát, lâm phương giai hung, trở ngại bách ban (sát hướng nào cũng là hung, trở ngại mọi thứ) 2. Nhị Hắc: vi bệnh phù tinh (bệnh khớp với sao), tác dụng chủ yếu là sinh ra bệnh tật, làm cho con người mệt mỏi, người bị hại sẽ cảm thấy như là mắc bệnh thương phong cảm mạo.

3. Tam Bích: vi suy vưu tinh (ngu ngốc đổ lỗi cho sao), đa chủ, gia trạch không yên ổn, sức khoẻ sút kém.

4. Thất Xích: là tặc tinh (sao băng), hung tính ở trên Tam Bích, tập trung vào hiệu ứng phá sản, thất nghiệp tương đối nghiêm trọng.

III.Thanh sát

Các loại âm thanh không đồng đều nhịp nhàng đều có thể cấu thành nên thanh sát. Khoa học hiện đại gọi là ô nhiễm tiếng ồn. Bất luận là tiếng ồn có tính sản sinh hay là tiếng ồn môi trường, ngoài việc sinh ra những tổn hại đến hệ thính giác, hệ thần kinh, hệ tâm huyết quản của con người ra, còn có ảnh hưởng không tốt đến chức năng sinh sản của con người và sự phát triển của phôi thai.

Theo kết quả nghiên cứu bệnh học lưu hành cho thấy, tiếng ồn có thể làm cho chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ không có quy luật, kỳ kinh kéo dài, lượng huyết kinh tăng lên hoặc giảm đi và gây ra bệnh thống kinh (đau bụng trong chu kỳ kinh nguyệt). Khi cường độ tiếng ồn lên tới 90dB trở lên, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh kinh nguyệt bất thường cũng hiển nhiên tăng lên. Những người tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ trên 100dB thì bệnh tình càng rõ rệt hơn. Nguyên nhân là tiếng ồn có thể kích thích tế bào noãn của phụ nữ bị biến đổi giữa hai thời kỳ phát triển: Ở giai đoạn đầu, thúc đẩy tế bào noãn nhanh chín hoặc tế bào noãn có sự cải biến tụt lùi rõ rệt.

Ở giai đoạn sau, chủ yếu là khép kín tế bào noãn. Phụ nữ thời kỳ mang thai và sinh đẻ tiếp xúc với tiếng ồn cường độ cao, đặc biệt là phụ nữ mang thai tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ 100dB trở lên, tỉ lệ phát bệnh trúng độc thai nghén tăng cao rõ rệt. Giả dụ, bên cạnh nhà bạn ở có một quán bar disco hiện đại hoặc hàng xóm của bạn là một người mê nhạc hiện đại, hoặc trong nhà bạn xuất hiện một “loại người mới” mê điên cuồng nhạc hiện đại, vậy là bạn đã bị hại rồi.

Theo các chuyên gia hữu quan, người mà phải nghe âm nhạc có tính kích thích mạnh trong thời gian dài thì thính lực bị ảnh hưởng rất lớn. Nếu bạn là một người không hiểu nhạc hiện đại, vậy thì khi bạn nghe loại nhạc này chỉ là tiếng ồn mà thôi. Trong vòng 3 năm, thính lực của bạn sẽ bị suy thoái nghiêm trọng, người bị nặng có thể bị điếc.

Các nhà khoa học qua quá trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận: Liên tục nghe loại nhạc có tính kích thích trong vòng 4 tiếng đồng hồ thì tai cần 20 – 50 tiếng đồng hồ để bình phục lại thính lực bình thường. Tiếng ồn có thể tạo áp lực cho con người, dẫn đến huyết áp tăng cao, tim đập dồn dập và hô hấp gấp gáp. Sử dụng phương pháp trải thảm dày trên đất và lắp trần nhà hút âm đặc biệt sẽ có thể giảm bớt tiếng ồn và có thể cải thiện được tình hình.

IV. Quang sát

Trong những lúc nào đó, ánh sáng cũng là một loại sát khí. Khoa học gọi Quang sát là ô nhiễm ánh sáng. Bị hại sâu sắc nhất chính là con người sống trong đô thị hiện dại. Trên Thế giới ô nhiễm ánh sáng được chia ra làm 3 loại, tức là ô nhiễm ánh sáng ban ngày, ánh sáng ban ngày nhân tạo và ô nhiễm ánh sáng màu.

Ô nhiễm ánh sáng ban ngày là chỉ khi ánh nắng mặt trời chiếu xuống quá gay gắt, tường kính, tường gạch hoa, đá phiến nhẵn bóng và các loại sơn nhẵn của các vật kiến trúc trong thành thị phản xạ lại tia sáng, ánh sáng loá chói chang làm chóng mặt hoa mắt. Ánh sáng ban ngày nhân tạo là chỉ sau khi màn đêm buông xuống, ở các trung tâm thương mại, đèn quảng cáo của các quán bar hay đèn nhấp nháy loá mắt làm cho mắt người bị hoa, có những ánh sáng mạnh thậm chí xuyên tận lên trời cao làm cho ban đêm sáng như ban ngày, đó chính là cái gọi là ánh sáng ban ngày nhân tạo.

Ô nhiễm ánh sáng màu là chỉ nguồn ánh sáng màu của những ngọn đèn huỳnh quang, đèn cực tím, đèn quay, đèn nhấp nháy… được lắp trên sàn nhảy hay trong những buổi dạ tiệc gây nên ô nhiễm ánh sáng màu. Nếu con người sống thời gian dài hoặc sống trong môi trường như vậy sẽ gây ra nhiều tổn hại đến sức khoẻ, nếu xung quanh ngôi nhà ở mà có môi trường như vậy mà lại thiếu biện pháp phòng hộ cần thiết cũng sẽ bị phương hại. 

Dưới sự ô nhiễm ánh sáng trắng, võng mạc và mống mắt sẽ bị tổn hại ở những mức độ khác nhau, thị lực nhanh chóng suy giảm, tỉ lệ phát bệnh đục thuỷ tinh thể (hay còn gọi là bệnh thong manh) đạt đến 45%. Hơn nữa, còn làm cho con người đầu óc choáng váng, bực bội trong lòng, thậm chí sinh ra các triệu chứng suy nhược thần kinh như mất ngủ, ăn kém, tâm trạng tụt dốc, sức lực suy kiệt… Ánh sáng trong “thành phố không đêm” có thể làm đảo loạn đồng hồ sinh học bình thường trong cơ thể người, dẫn đến giảm hiệu suất làm việc ban ngày. 

Nếu sống trong ngôi nhà có cửa sổ lớn, nhiều cửa sổ mà không chú ý che chắn thì sẽ bị tổn hại nghiêm trọng. Cường độ tia tử ngoại do đèn cực tím sản sinh ra cao hơn rất nhiều so với tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời và rất có hại cho cơ thể con người. Con người nếu tiếp nhận loại chiếu xạ này trong thời gian dài thì có thể dẫn đến bệnh chảy máu mũi, rụng răng, đục thuỷ tinh thể, thậm chí còn dẫn đến bệnh máu trắng và các bệnh ung thư khác. Nguồn ánh sáng màu làm cho mắt của con người bị hoa, bị rối loạn, loại ánh sáng này không chỉ bất lợi đối với mắt mà còn làm ảnh hưởng đến thần kinh trung ương đại não, làm cho con người thường xuyên cảm thấy đầu óc choáng váng, hoa mắt, xuất hiện các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, mất ngủ…

Hơn nữa, ô nhiễm ánh sáng màu không chỉ làm tổn hại chức năng sinh lý mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm lý.

V. Phong sát

Vật kiến trúc bị gió lớn thổi là sát. Ví dụ, vật kiến trúc quá cao, xung quanh không có vật kiến trúc cao lớn tương tự bao bọc, nó sẽ trở thành “đỉnh cô đơn”, không thể tàng phong tụ khí, về phong thuỷ bị coi là không lành. Tất cả hệ thống gió bất lợi cho con người gọi là Phong sát.

Ví dụ, phương Bắc hàn lạnh, nên coi gió Tây Bắc là sát phong. Cửa trước, cửa sau và cửa giữa nằm thông nhau trên một đường thẳng, hình thành nên một quá đường phong, đây cũng là sát phong. Mùa hạ dùng quạt, mức độ gió vừa phải thì là cát phong, mức độ gió quá mạnh là sát phong. Thuật phong thuỷ cổ đại cho rằng, trạch tiền có ao phong (gió trũng) thì minh đường sẽ bị nghiêng. Trạch hậu có ao phong thì tí bác (cánh tay) sẽ bị lạnh, không có chỗ nào để nương tựa. Trạch tả có ao phong thì long sa mềm yếu, vô tình. Trạch hựu có ao phong thì bạch hổ trống rỗng, bất cát (không lành). Loại ao phong này đều là sát phong.

 

Thuỷ và tài (nước và của cải).

Thuỷ là một điều kiện cần thiết của phong thuỷ kiến trúc, tác dụng chủ yếu là: có lợi cho việc duy trì không khí trong lành và độ ẩm nhất định; có lợi cho sức khoẻ con người và sự sinh sôi nảy nở của thực vật. Nhưng cần chú ý, nước chảy thẳng và nước ô đục đều bất lợi cho con người và cây cối; nước trong xanh, chảy vòng quanh mới phù hợp với môi trường và yêu cầu của phong thuỷ. Đương nhiên, cũng có người nói rằng nước chảy vòng quanh có lợi cho tưới bón, tiêu phòng.

191

Lý luận phong thuỷ luôn cho rằng, “nước quản của cải”, như vậy có lý không nhỉ? Thực ra cũng có tác dụng nhất định nhưng không phải là trực tiếp, nước là thể chuyển tải hữu hiệu mà thời cổ đại vẫn dùng để thực hiện trao đổi của cải. Nhìn từ quá trình hình thành khái niệm “nước quản của cải”, nước là vật chất không thể thiếu trong sinh hoạt sản xuất, đồng thời còn có thể chịu được sự đè nặng của các công cụ vận tải giao thông, tất cả những nơi có nước là những nơi dân cư đông đúc, của cải dồi dào, cũng là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi vật chất tương đối tấp nập, thậm chí trong một giai đoạn lịch sử nào đó còn xuất hiện những tác phẩm vỏ sò lấy từ dưới nước lên được sử dụng để trao đổi hàng hoá, vì thế cổ nhân cho rằng nước là của cải cũng hợp tình hợp lý. Sau này, trên cơ sở những nhận thức như bên trên đã nói, nước đẩy ra đến đường cái cũng là của cải.

Hiện nay trong tất cả thư tịch phong thuỷ được lưu truyền lại và sách phong thuỷ hiện đại đều ủng hộ quan điểm này. Điều này phản ánh tâm lý sùng bái đối với nước với của cải của con người. Trên thực tế, nước cũng tốt, đường cái cũng tốt, là thể chuyển tải hữu hiệu để cổ nhân thực hiện trao đổi hàng hoá, là con đường chính để thực hiện tiền tài. Thể chuyển tải và phương pháp trao đổi vật chất hàng hoá của con người hiện đại có rất nhiều, ti vi, sách báo, mạng internet… đều được coi là thể chuyển tải để trao đổi hàng hoá của cải. Cần phải nhắc nhở rằng, nước muốn biến thành của cải phải thông qua hoạt động của con người mới đạt được.

Không thể chỉ ham mê phong thủy

Phong thuỷ học là một môn thuật số cứu nhân độ thế, ứng dụng chính xác sẽ có thể cầu phúc diệt họa, trợ nhân khai vận, thậm chí có một số thầy phong thuỷ thông qua nó để ức ác phục thiện, tuyên dương giáo học, nuôi dưỡng những nhân tài xuất chúng để phục vụ xã hội. Nhưng trong xã hội thương nghiệp hoá hiện nay biến đổi nhanh chóng, con người chạy theo công lợi, thì cầu tài cầu phú quý đã trở thành tâm lý phổ biến của con người, còn “sớm đói chiều no”, “năm Dần ăn khẩu phần năm Mão” thì không ai mong muốn cả.

Thế là, có những người theo đuổi tiền tài phú quý đã dùng trăm phương nghìn kế để tìm được phong thuỷ tốt, muốn thông qua địa lý để “dẫn” phú quý về nhà, thậm chí có người cả ngày chỉ chìm đắm vào phong thuỷ, điều này thật không nên. Vận mệnh con người bị khống chế bởi 3 nhân tố thiên, địa, nhân.

1

Thiên: là chỉ Tam Viên Liệt Túc và thất chính (gồm nhật, nguyệt, thuỷ, kim, hoả, mộc, thổ), tứ dư (gồm tử khí, nguyệt bột, la hầu, kế đô) và các sao Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương. Ví dụ, dựa vào “Phép lựa chọn thiên tinh” lấy góc độ có lợi để ứng dụng vào hành sự (như nhập trạch, dựng vợ gả chồng, kê bát hương, kê giường, kê bàn thờ, nhậm chức, xuất hành, tang lễ…)

Địa: chủ yếu là chỉ môi trường xung quanh nhà ở, như bố cục dương trạch thiết kế hợp lý, thượng phong thượng thuỷ thì sẽ có lợi cho cuốc sống và sức khoẻ con người.

Nhân: chủ yếu là phẩm hạnh của con người, như chú ý làm nhiều việc thiện, tu thân dưỡng tính thì sẽ có thể nhận được sự tôn kính của mọi người, làm việc được quý nhân phù trợ, phú quý an khang…

Từ đó có thể thấy, phong thuỷ quả là có một ảnh hưởng nhất định tới con người, như điều chỉnh phong thuỷ tốt có tác dụng cứu trợ đúng lúc, “rét cho áo đói cho cơm”. Nhưng nếu phải thông qua phong thuỷ để cầu tài phúc thì lại gặp phải một vấn đề khó khăn tương tự. Dựa theo kinh nghiệm, cho dù có tìm được phong thuỷ tốt thì còn phải kết hợp với các điều kiện sau:

1. Đời đời hành thiện tích đức

2. Tính cách của người đương sự tốt

3. Có dương trạch đương vận (phối hợp cả hình khí)

4. Dùng “thiên tinh” để chọn ngày, lấy hiệu ứng của các vì sao để thúc đẩy địa linh, như vậy có thể thực hiện đước nguyện vọng.

Nhưng để phù hợp tất cả các điều kiện trên có dễ dàng không? Trong tất cả thì cũng có một cái khó. Vì vậy, đối với phong thuỷ cần phải có một nhận thức chính xác, không được vì cầu tài phú quý mà cả ngày “vùi đầu” ham mê phong thuỷ.  Đương nhiên, Phúc, Lộc, Vinh, Thọ là cái mà con người luôn hướng tới; Gian, Nan, Nguy, Khốn là điều mọi người mong tránh; Cơ, Hàn, Bần, Khổ là cái mà con người khó chịu đựng.

Thế nhân có biết bao hy vọng cải biến vận mệnh, theo đuổi phú quý. Cho nên tác giả xin đề nghị rằng: Phú quý tuy là điều ai ai cũng mong muốn nhưng nên đi theo con đường chính đạo mà đạt được nó; Phong thuỷ tuy không dễ coi thường nhưng cũng không nên quá đam mê nó. Cải thiện vận mệnh bẩm sinh con đường hữu hiệu nhất là bồi dưỡng tấm lòng chính trực, luôn hướng thiện, hành thiện.

Bởi vì, làm nhiều việc thiện tất nhiên sẽ làm cho tâm bình khí hoà, làm việc sẽ được quý nhân phù trợ. Thế Tôn nói: “Thiên có thiên tâm, địa có địa tâm, nhân có nhân tâm, nếu thiên địa nhân ba tâm nhất chính, bách tà sẽ ẩn đi; ba tâm bất chính bách tà sẽ phát tác. Trong tâm kinh có vô lượng vô biên công đức, không thể lý giải được, nhưng cứ dựa vào đó mà làm, tự nhiên sẽ thành công”. Điều đó là chí lý! Người đọc cần phải ghi nhớ trong tim.

Địa lý, vận mệnh vốn có sở nghiệm, nhưng xoay chuyển càn khôn nằm ở cái tâm. Người có đức, có tuệ, có thuật, có trí, nếu có một tấm lòng chính khí thì những lòng tham, ưu sầu, phiền não sẽ dần dần tiêu tan, đối mặt với cuộc sống luôn giữ thái độ vui vẻ quang minh thì mọi việc sẽ không “làm khó” con người, đồng thời luôn nỗ lực vươn lên, chăm chỉ cần cù lao động, như vậy nhất định có thể vượt qua mọi trở ngại cuộc sống, mở ra một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

Ngựa – Mã thượng phi hồng báo bình an

Ngựa là một trong những động vật được con người thuần hóa sớm nhất, nhưng nó không giống với trâu, dê, lợn, chó,… chỉ đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và sản xuất cho con người. Trong xã hội nông nghiệp, ngựa cũng được dùng để làm việc, dùng để kéo xe, nhưng tác dụng lớn hơn của ngựa là làm ngựa chiến, hoặc để cưỡi, hoặc để kéo xe ,trợ giúp con người trong chiến đấu. Trong thời kỳ binh khí còn thô sơ, ngoài người và binh đao ra, có vẻ ngựa cũng là thứ vũ khí quyết định đến thắng bại trong cuộc chiến. Cũng không có gì lạ khi các vị hoàng đế, tướng quân luôn quý trọng ngựa, coi ngựa như sinh mạng của mình.

Ngựa - Mã thượng phi hồng báo bình an

Hiện nay vẫn có thể thấy những ghi chép và hiện vật cổ liên quan tới sự yêu quý ngựa của các vua chúa và tướng lĩnh thời xưa. Nổi bật nhất là “thiên mã” (ngựa trời), từ đó người ta đã sáng tạo ra hình tượng “mã đạp phi yến”, tức ngựa dẫm lên chim én, hình bên dưới là bức tượng đồng thời Hán được khai quật ở Vũ Uy tỉnh Cam Túc, tạo hình như ngựa đang bay, chân đạp lên con chim én đang bay, rất đặc biệt, sinh động và có thần. Đồng thời người ta còn liên hệ tuấn mã với rồng. Trong truyền thuyết có con rồng lưng cõng Hà đồ, gọi là mã long, hay long mã, vì trông  nó giống ngựa, Phục Hy cũng dựa vào Hà đồ hay còn gọi là “Mã đồ”, mới vạch thành Bát quái. Nhưng, những truyền thuyết hư  cấu này coi hơi xa xôi đối với quần chúng nhân dân. Những người dân bình thường gọi ngựa là “long câu” (ngựa rồng), đồng thời cũng ví những đứa trẻ thông  minh lanh lợi với long câu, từ đó tìm thấy được ngụ ý cát tường thực tế hơn.

horse9.jpg

Mọi người yêu quý ngựa, coi ngựa là vật cát tường, đương nhiên sẽ thường xuyên sử dụng hình tượng ngựa. Về điêu khắc ngựa, có tác phẩm Chiêu Lăng lục tuấn, Mã đạp phi yến, và các binh mã dùng trong mộ Tần Thủy Hoàng đều là những đại diện tiêu biểu. Điều thú vị là, thời trước còn dùng vàng, đồng để đúc thành móng ngựa, cũng mang ngụ ý may mắn. Trong “Hán thư – Vũ Đế Kỷ” có viết, năm Thái Thủy thứ 2, Hán Vũ hạ chiếu dùng vàng để đúc thành hình móng kỳ lân và móng ngựa, Nhan Sư Cổ nói:” Vũ Đế muốn thể hiện điều tốt lành, nên cho đúc thành hình móng kỳ lân và móng ngựa.”

Ngựa thường được thế hiện nhiều nhất thông qua hội họa, từ cổ chí kim, thời đại nào cũng không thiếu người vẽ ngựa tài giỏi, như Hàn Cán thời Đường, Lý Công Lân thời Tống, và Từ Bi Hồng thời nay. Trong đó phần lớn đều vẽ tám con tuấn mã (tương truyền là tám con ngựa của Chu Mục Vương). Những hình vẽ tuấn mã này đều thể hiện sức sống mãnh liệt và tinh thần tiến về phía trước. Cũng có những câu nói cát tường, như “Mã đáo thành công” (mau chóng thành công). Hình vẽ cát tường truyền thống cũng thường lấy ngựa làm đối tượng, như Mã thượng phong hầu, Mã báo bình an,…

Hươu – Là Lộc, Là Thọ, Lộ trình thông thuận

Hươu cũng giống như voi, có hình thể tương đối đặc biệt, tứ chi nhỏ dài, hươu đực còn có sừng. Hươu có giá trị sử dụng rất cao: da có thể may áo trải giường, lông có thể làm ngòi bút, nhung hươu là nguyên liệu làm thuốc đặc biệt quý. Trong thời cổ đại, những sản phẩm làm từ da hươu như áo da hươu, mũ da hươu, khăn đội đẩu bằng da hươu đểu là những đồ dùng của ẩn sĩ, điểu này có lẽ vì ẩn sĩ và hươu cùng ở chốn núi rừng hoang dã. Nhưng, hươu sở dĩ trở thành một biểu tượng may mắn, có lẽ vì liên quan với quan hệ quân thẩn bách tính trong nhân gian.

Hươu phong thủy - đúc đồng Đại Bái

Trước tiên, hươu là tượng trưng cho địa vị của đế vương, các điển tích “trục lộc Trung Nguyên” (đuổi hươu Ở Trung Nguyên, ý nói nước Tẩn để mất ngôi đế vương, cả thiên hạ liền tranh giành), “lộc tử thuỳ thủ” (hươu chết về tay ai), hai câu thành ngữ này đều ví hươu với địa vị đế vương. Cùng với đó, hươu cũng được đưa vào phạm trù của chính trị thần học, trở thành tiêu chí cát tường của chính trị xã hội. Trong cuốn “Vĩ thư’ có nói, khi bậc thống trị tài giỏi, hiếu thuận, đối xử tốt với bách tính, chính trị có nề nếp, hươu (đặc biệt là hươu trắng ) sẽ xuất hiện. Ngoài ra, trong cuốn “Hậu Hán thư’còn ghi lại điềm có hươu tráng đi theo, chủ nhân sau này được thăng quan.

Hươu là động vật có nhiều Ở Trung Quốc, trong “Kinh Thi” nhiều lẩn nhắc tới hươu. Hươu có một tên gọi đặc biệt là “ban long” (rồng đốm), đủ thấy sự yêu quý của mọi người dành cho nó. cổ nhân đã phát hiện thấy hươu có tính nhút nhát, nên dùng “lộc kinh” (hươu sợ) để ví von với trạng thái hoảng hốt sợ hãi. Ngoài ra, hươu “ăn cùng ăn, đi cùng đi, ở thì cùng chĩa sừng ra ngoài để phòng vệ”(“Hoa kính”), có tập tính sống tập trung. Người ta đã phát triển tập tính này thành các mối quan hệ giữa người với người, dùng hình tượng hươu để ví với những điều tốt đẹp, ví “tiếng hươu kêu” (lộc minh) ví vơi âm nhạc trong yến tiệc đãi khách, từ đó đã xuất hiện cách gọi “lộc minh yến”để chỉ bữa tiệc sang trọng.

Nghe nói, hươu là loài thú tiên sống trường thọ, những cuốn sách viết về thẩn tiên đã ghi chép lại rất nhiểu về điều này, nói hươu có thể sống một nghìn năm, năm trăm năm hoá thành hươu trắng, năm trăm năm sau biến thành hươu đen. Vì hươu là động vật trường thọ, con người ăn thịt nó cũng sẽ được trường thọ, trong cuốn “Thuật dị ký”có viết”huyền lộc vi phủ, thực chi thọ nhị thiên tuế” (nghĩa là: hươu đen làm thịt khô, ăn vào có thể sống được hai nghìn năm). Đồng thời, người ta còn coi hươu là tượng trưng của trường thọ, trong nhiều trường hợp dùng làm chủ để để chúc thọ, cầu thọ. Trong bức tranh chúc thọ truyền thống,hươu thường đi kèm với thọ tinh, chúc phúc trường thọ. Trong những câu đối chúc thọ càng không thể thiếu hươu.

Hươu trong tiếng Hán là “lộc”, có nhiểu từ đổng âm nên ý nghĩa cát tường của nó càng được mở rộng. Trước tiên âm lộc (hươu) giống với âm “lộc” trong tài lộc, bổng lộc, trong các hình vẽ cát tường thường xuyên dùng hươu để tượng trưng cho lộc. Thứ hai, “lộc” trong tiếng Hán có âm đọc gẩn giống “lộ” (nghĩa là đường), nèn có thể vẽ hai con hươu để biểu thị “lộ lộ thuận lợi” (mọi con đường đểu thuận lợi). Tiếp theo, âm “lộc” gần giống với âm “lục” (số 6), nèn hươu và hạc đi cùng tượng trưng cho “lục hợp đồng xuân”(nghĩa là khắp nơi đểu là mùa xuân), hoặc “lộc hạc đồng xuân”, dùng để chúc mừng năm mới, chúc phúc tuổi thanh xuân bất tận.